Hiện nay, có hai hình thức nhà ở được ưa chuộng nhất đó là nhà mặt đất và chung cư, căn hộ. Điểm chung là người sở hữu chung cư hay nhà đất đều được cấp “sổ đỏ” tức là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất và khác nhau về quyền sở hữu.

Sổ đỏ chung cư và nhà đất

Sổ đỏ chung cư ghi rõ diện tích sử dụng chung của cả toà nhà, thường là hàng nghìn mét vuông với thời hạn sử dụng lâu dài, thể hiện tại phần thửa đất. Mỗi một căn hộ là sở hữu riêng, ghi nhận trong phần nhà ở.

Còn với sổ đỏ nhà đất, diện tích đất ở, đất vườn là bao nhiêu, thời hạn sử dụng và mục đích sử dụng thể hiện ở thửa đất. Nhà được ghi nhận với hình thức sở hữu riêng, loại nhà cụ thể, diện tích xây dựng và thời hạn sử dụng ở phần nhà ở.

Nhà nước ghi nhận quyền sở hữu chung cư và nhà đất là như nhau. Người đứng tên có quyền mua bán, tặng, thừa kế, cho thuê và thế chấp.

Đối với nhà đất, diện tích đất được quan tâm nhiều hơn là căn nhà đi cùng, khi người dân mua bán sang nhượng. Sổ đỏ nhà đất có đối tượng chính là đất, nhà và tài sản khác chỉ “gắn liền với đất”

Còn ở chung cư, diện tích căn hộ là đối tượng chính, chủ tài sản được sở hữu riêng, còn phần đất là hàng nghìn người sở hữu chung.

Cấp sổ đỏ chung cư và nhà đất

Hồ sơ xin cấp mới, sửa đổi sổ hồng của chung cư hay nhà đất đều do Văn phòng đăng ký đất đai tiếp nhận và giải quyết theo Điều 60, Nghị định 43/2014 và Nghị định 148/2020.

Điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu của chung cư và nhà đất là như nhau gồm: giấy tờ xác nhận mua bán, sở hữu hoặc hợp đồng công chứng, xác nhận nộp thuế.

Sở hữu nhà đất và chung cư có gì khác nhau?

Chung cư là toà nhà, có thể xuống cấp theo thời gian và đến lúc nào đó không thể sử dụng được nữa. Khi đó dân cư chung cư phải họp nhau, thành lập ban quản lý để xây dựng lại hoặc để nhà nước thu hồi đất, sau đó tổ chức tái định cư, bồi thường.

Cư dân chung cư phải tuân thủ theo nội quy của toà nhà, có thể bị hạn chế nuôi động vật, tổ chức tiệc cưới đông người, trồng cây lớn,…

Chung cư là “chỉ dành riêng cho việc ở” nên địa chỉ chung cư không thể dùng làm địa chỉ doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hay kinh doanh, theo Nghị định 99/2015.

Ở Chung cư và Nhà mặt đất có những quy định về việc sử dụng tài sản, sinh hoạt khác nhau.

Nhà đất thì ngược lại, có thể dùng làm trụ sở, văn phòng, kho bãi, không vi phạm điều kiện về kinh doanh. Chủ nhà có thể nuôi động vật, tuỳ ý sửa chữa.

Giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ thuộc thẩm quyền của quyện huyện, còn xây dựng chung cư phải thông qua chính quyền cấp tỉnh, hệ thống xét duyệt dày đặc hơn tại Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch kiến trúc.

Xem thêm:

Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 0702 687 568